Thursday, Jul 29th

Cập nhật vào:11:02:27 PM GMT

Tìm Hiểu Vọng Cổ

Sơ Lược về Vọng cổ

Nói đến Cổ-nhạc chúng ta ai cũng nghĩ ngay đến bản Vọng-cổ ... cũng đúng thôi vì bản Vọng-cổ đã quá quen thuộc với chúng ta ... có ai mà không từng nghe nó một lần. Nhưng thật ra nền cổ-nhạc của chúng ta được phân ra làm 2 nhóm là Cải-Lương và Tài-Tử.

Nhạc Cải lương thường được trình diển trên sân khấu cho công chúng xem với tuồng tích hẳn hoi, và bài hát một số được rút ra từ Nhạc Tài tử nhưng được làm phong phú hơn trong nhịp điệu cho hấp dẩn (như Xàng-Xê từ nhịp 4 thành nhịp 8, Văn-Thiên-Tường từ nhịp 8 Oán thành nhịp 4 lơi ...) và lẻ dỉ nhiên bài hát chủ lực cho Cải lương vẩn là bài Vọng Cổ.

Trong lúc đó thì Nhạc Tài-Tử được chơi với tính cách nhạc thính phòng của những người cùng yêu thích với nhau mà người ta thường nói là chơi bài bản vì nó đòi hỏi một quá trình học hỏi chuyên cần

Cổ nhạc chúng ta có ngủ cung ... nhưng cũng tùy theo bản nhạc ...
... nếu bản nhạc có hơi BẮC thì ngủ cung là HÒ XỰ XANG XÊ CỐNG
... nếu bản nhạc có hơi NAM thì ngủ cung là HÒ XỰ XANG XÊ FAN
...nếu bản nhạc có hơi OÁN thì ngủ cung là HÒ XỰ XANG XÊ OAN

Tổng hợp Nhạc Tài Tử được hệ thống thành các Bộ như sau :
-Bộ NAM : gồm 3 bài NAM XUÂN với Trống Xuân, NAM AI với Mái Ai và NAM ĐẢO hay còn gọi là Đảo-Ngủ-Cung với Song Cước .
-Bộ OÁN : gồm các bài Tứ-Đại-Oán, Giang-Nam Cửu-Khúc, Phụng Cầu, Phụng-Hoàng Lai-Nghi, Bình-Sa Lạc-Nhạn, Nguơn-Tiêu Hội-Oán, Vỏ-Văn Hội-Oán, Thanh-Dạ Đề-Quyên , Vỏ-Tắc-Biệt , Tư-Mã Tương-Như.
-Bộ ĐIỂM : gồm các bài Lưu-Thủy, Phú-Lục, Bình-Bán, Xuân Tình, Tây Thi và Cổ Bản. Sáu bài nầy được giới đàn ca gọi là 6 bài Bắc trường, nhưng hai bản Tây Thi và Cổ Bản trường vì quá dài đến 52 và 68 câu nên họ thường chơi hai bài Tây Thi và Cổ Bản vắn chỉ có 26 và 34 câu mà thôi.
Thực ra bộ Điểm nầy rất phức tạp vì nó gồm có tất cả là 36 bài gồm đoản, trường,thủ, vĩ và tẩu mã ...Thí dụ bản Lưu Thủy thì có Thủ Lưu-Thủy Đoản, Vĩ Lưu Thủy đoản,Thủ Lưu Thủy trường, Vĩ Lưu Thủy trường, Thủ Lưu Thủy Tẩu Mã, Vĩ Lưu Thủy Tẩu v.v.. quá lộn xộn nên giới đàn ca chỉ chơi bài Vĩ Trường mà thôi như bản Lưu Thủy thường chơi trong giới đàn ca là bản Vĩ Lưu Thủy trường.
-Bộ XUẤT : gồm các bài : Văn-Thiên-Tường , Trường-Tương-Tư, Tứ Đại Vắn, Chinh-Phụ Ly Tình, Hội Nguơn Tiêu và Bắc Bản Chấn .
-Bộ CHÍNH : gồm các bài nhạc lể hay còn gọi là các bài Cò vì chơi những bài nầy phải có đàn cò mới hay. Các bài nhạc này gồm có: Xàng-Xê, Ngủ Đối Thượng, Ngủ Đối Hạ, Long Đăng, Long Ngâm, Vạn Giá và Tiểu Khúc. Sau nầy giới đàn ca còn chơi thêm hai bài nửa là Ngủ Đối Ai và Chiết Tứ Vĩ ...
-Bộ NGỰ : gồm 8 bài ngự sau : Đường-Thái-Tôn, Vọng Phu, Bắc Man Tấn Cống, Chiêu-Quân, Duyên Kỳ Ngộ (ngự), Aí Tử Kê (ngự), Quả Phụ Hàm Oan và Tương-Tư (ngự) ...
-Bộ NHỈ : gồm 2 phần ... phần A gọi là Tứ Bửu gồm có 4 bài là Minh-Hoàng Thưởng Nguyệt, Ngự Giá Đăng Lâu, Phò Mã Giao Duyên và Ái Tử Kê (tứ bửu) ... phần B gọi là Ngủ Châu gồm có 5 bài là Kim Tiền Bản, Ngự-Giá, Hồ Lan, Vạn Liên và Song Phi Hồ Điệp ...
-Bộ THỦ : gồm 10 bài liên huờn là Phẩm Tuyết, Nguơn Tiêu, Hồ Quảng, Liên Huờn, Bình Nguyên, Tây Mai, Kim Tiền, Xuân Phong, Long Hổ và Tẩu Mã ...

Về sau nầy để dể dàng dạy cho học trò, các nhạc sư gọi hệ thống nầy như sau, thêm vào 2 Bộ mà phần lớn được dùng cho Cải lương là Bộ Lý như Lý Vọng Phu, Lý Giao Duyên, Lý Con Sáo và Bộ Ngâm như ngâm Tao Đàn, Sa Mạc v.v...

Nhất LÝ Nhì NGÂM Tam NAM Tứ OÁN Ngủ ĐiỂM Lục XUẤT Thất CHÍNH Bát NGỰ Cửu NHỈ và Thập THỦ LIÊN HOÀN

Trong tất cả những bài nầy thông dụng nhất là các bài bản ở các bộ Nam Điểm Oán Chính mà các nhạc sư thường gọi là 20 bản Tổ gồm 3 bài Nam 6 bài Bắc 7 bài Cò và 4 bài Oán ( Tứ Đại Giang-Nam Phụng Cầu và Phụng Hoàng)

Xuất thế lão thông nhị thập huyền bản tổ
Thậm đa quán thế Thất thập nhị huyền công

 

Trong cổ nhạc bản Vọng-cổ là bản khó cho nhưng ai mới học ca vì rất khó chuẩn nhịp. Trong cổ nhạc chúng ta sẽ thường nghe nói đến nhịp tư trong những bài ca Bắc, Nam hay nhịp tư lơi trong những bài như Trường Tương Tư, nhịp tư lơi tám thúc như trong bài Phụng Hoàng Cải Lương, nhịp tám trong những bài Oán Tài Tử. Các tên gọi nhịp tư, tư lơi, tám được căn cứ vào nhịp 32 của bài Vọng cổ. Nhịp 32 tức nhịp 2 chân trái phải bắt đầu từ chân phải nhưng chỉ tính nhịp của chân phải mà thôi


Trong một bài ca Vọng cổ ngày nay, tác giã thường chỉ viết 4 câu là 1,2 và 5,6. Đôi khi tác giả viết 5 câu 1,2 và 4,5,6 chứ ít khi nào viết đủ 6 câu là 1,2,3 và 4,5, 6 nên nếu tính theo nhịp 32 thì mỗi câu vọng cổ sẽ có 32 nhịp trừ câu vô vọng cổ . Nếu tính đúng câu vọng cổ sẽ chỉ có 15 nhịp rưởi mà thôi. và cứ mỗi 4 nhịp trong câu người ta gọi là 1 lái.  Người ca phải tập nghe cho được chữ đờn cuối của mỗi lái để GIỮ ĐÚNG nhịp của mình. Để giúp cho người đờn và ca điều chỉnh nhịp, người ta dùng tiếng gỏ song-loan. Khi còn 2 lái nửa dứt câu tức còn 8 nhịp nửa sẽ có 1 tiếng gỏ song-loan báo trước và khi dứt câu thì gỏ 1tiếng nửa.  Tiếng song-loan nầy do người nhạc-sĩ trưởng dàn nhạc gỏ. Song-loan rất quan trọng. Không có nó hoặc gỏ sai thì cả nhóm đờn ca sẽ bị mất nhịp ngay.

Sau khi đã biết nhịp rồi thì tự mình sẽ phân nhịp cho bài ca vọng cổ mà mình muốn hát sao cho mình dứt bài ca thì người đàn cũng vừa gỏ song loan dứt một lượt với mình vì vậy nên cùng một bài ca vọng cổ mà thường không ai hát giống ai.

Sau đây là một bài vọng cổ 4 câu 1,2 và 5,6 mà hai câu 1 và 5 là hai câu vô vọng cổ thường được người ta gọi là vô hò. Chú ý : các tiếng đờn được ghi bên dưới .

Câu 1 : ..... vô hò ..-------3 nhịp rưởi----->HÒ ---------4nhịp----->CỐNG (SL báo)
--------4 nhịp----------->XANG----------4 nhịp ----->CỐNG (SL dứt câu)


Câu 2 : ------4 nhịp-------->XỀ -------4nhịp--------->XANG
------4 nhịp--------->XANG -----4 nhịp -------> HÒ
-------4 nhịp-------->HÒ --------4 nhịp --------->CỐNG (SL báo)
------- 4 nhịp ------> XÊ -------- 4 nhịp -------> XANG (SL dứt câu)

Câu 5 : ....vô hò .....-----3 nhịp rưởi ---> HÒ -------4 nhịp ---> CỐNG (SL báo)
------4 nhịp ----> XÊ ---------4 nhịp -------> XỀ (SL dứt câu)


Câu 6 : ------4 nhịp ---->Xề --------4 nhịp -------> CỐNG
-------4 nhịp ---->XANG ------4 nhịp ------> CỐNG
-------4 nhịp ----> XÊ --------4 nhịp -------> XỀ (SL báo)
--------4 nhịp ---> XÊ --------4 nhịp -------> LIU (SL dứt câu)

Những chữ đờn cuối lái ghi trên không có tính cách cố định mà nó sẽ thay đổi tùy theo người nhạc sĩ. Ví dụ chữ CỐNG chổ SL báo có nhạc sĩ cũng dùng chữ XÊ nhưng quan trọng là có gỏ SL là đúng

LÒNG MẸ BAO LA
Thiên-Hùng

Lý Con Sáo :
Ôi .... bao la
Sông nước đổ vào biển khơi
Như lòng mẹ hiền thương con
Dù nhọc nhằn gian nan
Mẹ sá chi thân mẹ hao gầy
Qua tháng rộng năm dài
Con lớn khôn rồi đường mây tung cánh
Có bao giờ con ngoảnh lại sau lưng
Nhìn mẹ hiền đêm từng đêm vẩn nhớ
Vẩn thương con như thuở còn thơ ....

Vọng Cổ :
1- Để nói với mẹ rằng, mẹ ơi con mãi mãi muốn được gần bên gối mẹ như thuở ấu thơ mẹ ru con từng giấc xuân ... nồng ... Lòng mẹ bao la như biển rộng sông dài ... Mẹ đã nuôi con bao nài gian khổ ấp lạnh quạt nồng từng đủa cá chén cơm ... Con trẻ ấm đầu mẹ đã thức hằng đêm, quanh quẩn bên con trông từng bước chân chập chửng ... mong cho con sớm được nên người ... ôi công ơn mẹ như biển trời lai láng .

2- Con đã lớn khôn ra đua chen ngoài xã hội mẹ vẩn hằng đêm tựa cửa đón con về ... Dỏi bước chân con trên muôn dặm đường đời ... Thấy con vui lòng mẹ hiền như mở hội, con âu sầu mẹ quặn thắt héo hon ... Có ngôn từ nào diển đạt được lòng mẹ thương con, mẹ hiền ơi của con muôn thuở ... Mẹ là ánh trăng đêm rằm rạng rở là dòng suối ngọt ngào mãi mãi bên con .

Gió mùa thu mẹ ru con ngủ ...
Năm canh chầy mẹ thức đủ vừa ......
Ca Lý Ngựa Ô Nam : ............năm
Câu hát ngọt ngào nồng ấm yêu thương
(-------------) Qua bao năm tháng
Vẩn đậm đà tình nghĩa quê hương
Dù con lưu lạc hà phương
Dỏi bóng quê xưa những chiều mây nhạt
Nghe xót xa cay đắng dâng đầy
Lòng nặng trỉu u hoài
Nhớ mẹ hiền quặn thắt tâm can
Nghịch cảnh đã cách ngăn
Còn đâu bên con hình dáng mẹ hiền
Ngồi vá áo mỗi chiều
Hay lúc đêm về ... đông phong trở lạnh
Đắp chăn nồng cho con ...

Vọng Cổ :

5- Thời gian qua nhanh sẽ xoá đi bóng mờ dĩ vảng, nhưng mẹ hiền ơi mẹ vẩn bên con dù cuộc biển dâu vật đổi sao ...... dời ..... Để mẹ con cách biệt mấy phương trời ... Vật chất nào đâu mang hạnh phúc khi tâm hồn trống trải đơn côi ... Con nhớ quá mẹ hiền từng giọng hát ru con, từng tiếng vỏng đưa giữa trưa hè oi ả ... Có đi xa mới biết quê hương là tất cả ... tình mẩu tử thiêng liêng là tha thiết đậm đà .

6- Nhìn cánh chim chiều đang lướt gió tung mây, con muốn được như cánh chim về bên gối mẹ ... để trong những chiều vàng nhạt nắng bên hiên nhà nghe mẹ kể chuyện Lục-Vân-Tiên ... Đẹp làm sao bao kỷ niệm thần tiên mà mẹ hiền ơi hôm nay con không còn nửa ... Hởi những ai đang làm người xa xứ ... có nhớ chăng đấng từ mẩu sinh thành ...
Như một cánh cò lặn lội ở bờ ao ... hình ảnh mẹ con muôn đời bất diệt ... Với tấm lòng con chân thành tha thiết con gởi đến mẹ hiền bao nổi nhớ niềm thương .../.

Từ câu vọng cổ 1 qua câu 2 hay từ câu 5 qua câu 6, bài ca thường thường không có viết lời khoảng 2 hoặc 3 lái để các nhạc sĩ biểu diển ngón đờn và người ta thường gọi là đờn chầu. Sau đó thì dàn nhạc đàn êm lại cho người ca.

 

Trong 1 bài Vọng-cổ có 5 câu là 1,2 và 4,5,6 thì cách cấu trúc của các câu 1,2 và 6 thì giống như trên còn câu 4 và 5 thì như sau đây :

Câu 4 : .... vô hò ------3 nhịp rưởi ---->HÒ -----4 nhịp ---->CỐNG (SL báo)
---------4 nhịp ------> XANG -------4 nhịp -------> HÒ (SL dứt câu)


Câu 5 : ------- 4 nhịp -------> XỀ ------- 4 nhịp ------> HÒ
-------4 nhịp --------> HÒ ---------4 nhịp ------> HÒ
--------4 nhịp -------> HÒ ----------4 nhịp ------> CỐNG (SL báo)
--------4 nhịp --------> XÊ ----------4 nhịp ------> XỀ (SL dứt câu)

Câu 6 : giống như trên.

Comments 

 
#2 Nghia Le 2009-10-17 15:05
TD học lóm từ anh Nhật Xuân Đạo . TD phải mời anh NXĐ vào đây
 
 
#1 Tâm Tánh - Văn Đình Sơn 2009-10-16 08:24
Cám ơn anh Nghĩa. Giờ em mới hiểu được thêm chút ít về vọng cổ.