Bát Quan Trai Giới
Thượng Tọa Thích Đồng Trung
Khi còn là chúng sanh, thì chắc chắn ai cũng có sự sai lầm tội lỗi. Ðể tránh sự sai lầm ấy, Ðức Phật đã tùy theo mỗi trình độ mà chế ra các giới cho các hàng đệ tử vâng giữ. Giới là những điều răn cấm, với mục đích duy nhất là ngăn ngừa các ác hạnh, giúp chúng sanh có một đời sống an bình hạnh phúc.
Trong ba vô lậu học: Giới, Định, Huệ, thì giới là phần căn bản quan trọng. Nhờ giới, tâm mới định, tâm có định thì huệ mới phát sanh. Huệ có phát sanh thì chúng ta mới biết đâu là đúng đâu là sai để tiêu diệt, dứt trừ vô minh phiền não. Vô minh phiền não có dứt trừ thì mới minh tâm kiến tánh và thành Phật. Nhưng giới cũng có nhiều thứ, có thứ áp dụng cho hàng xuất gia, có thứ cho hàng tại gia. Trong hàng xuất gia, thì Sa Di chỉ giữ 10 giới, sáu giới Thức Xoa Ma Noa cho Chư Ni trước khi thọ giới lớn, Tỳ Kheo giữ 250 giới, và Tỳ Kheo Ni giữ đến 348 giới. Về phía tại gia thì có Tam Quy Y, Ngũ Giới, Bát Quan Trai Giới, Bồ Tát Giới. Tam Quy Y và Ngũ Giới thì chúng ta đã học rồi, bây giờ chúng ta học và thực hành Bát Quan Trai Giới. Bồ Tát giới thì khó khăn hơn, có lẽ tùy theo điều kiện và sự phát tâm của mỗi người, quý vị sẽ học và thực tập sau.
Chữ Bát là tám. Quan là cửa. Chữ Trai theo tiếng Phạn gọi là Posadha, nghĩa là khi đã qua giờ ngọ(giờ ngọ từ 11:00AM đến 01:00PM, nhưng giờ ăn của chư tăng không quá 12:00PM) không được ăn nữa. Giới là ngăn ngừa.
Tám giới quan trai trên thực tế là dựa vào năm giới căn bản của Phật Tử tại gia, nhưng được khai triển thêm ba giới nữa lập thành tám giới để giúp các Phật Tử tại gia kiến tạo một đời sống tịnh hạnh, tu nhân lành xuất thế. Nói một cách khác, Bát Quan Trai Giới là một phép tu hành của người Phật Tử tại gia được áp dụng để thúc liễm thân tâm trong một ngày một đêm. Tuy là thời gian ngắn ngủi và đơn giản nhưng có thể giúp và tạo các điều kiện thuận lợi để tu dưỡng tâm trí cho các Phật Tử tại gia sống trong đời sống hằng ngày rất hữu hiệu. Do vậy, nếu những ai phát tâm thọ trì thì chắc chắn phẩm lành sẽ được tăng tiến, phước huệ lớn thêm. Vậy Bát Quan Trai Giới là tám giới hay tám cửa ngăn chận tám điều tội lỗi, giữ gìn cho thân tâm được thanh tịnh trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ bằng cách ngăn chặn tám điều tội lỗi sau đây:
1- Không được sát sanh
2- Không được trộm cướp
3- Không được dâm dục
4- Không được nói dối
5- Không được uống rượu
6- Không được trang điểm, thoa dầu thơm, múa hát và xem múa hát.
7- Không được nằm ngồi giường cao rộng đẹp đẽ
8- Không được ăn quá giờ ngọ
1- Không Được Sát Sanh.
Các loài chúng sanh khác, mặc dù hình dáng có khác nhau, nhưng cùng có một điểm quan trọng giống nhau là tham sống, sợ chết, biết đau khổ vui mừng như con người. Quả thật như trong khi quan sát trong đời sống hằng ngày, chúng ta cũng nhận thấy: Cá thấy người cá lội xa, chim thấy người chim bay cao. Cũng như người thấy cọp dữ, rắn độc, cá sấu ... thì người lẩn trốn, vì sợ lâm nguy đến tính mạng. Khi bị bắt thì chim, cá, các loài vật khác hay người đều vùng vẫy để trốn thoát, và khi được thả ra, thoát chết, thì vật và người đều có tâm trạng sung sướng như nhau. Nhận thấy được sự tham sống sợ chết, nổi vui mừng, hay đau xót của muôn loại như nhau, cho nên chúng ta là Phật tử, học và thực hành theo đạo Từ bi, chúng ta cần phải cố gắng đừng sát hại những sinh vật và nhất là đừng sát hại con người. Về sự sát hại loài người, trong Ngũ Giới căn bản Đức Phật đã tuyệt đối cấm chỉ, và chúng ta cũng đã phát nguyện giữ giới ấy. Nhưng về sinh vật, vì một số Phật tử chưa có cơ duyên ăn chay trường, nên chưa tuyệt đối giữ được giới sát sanh. Vậy ít ra trong ngày một đêm thọ Bát Quan Trai, chúng ta hãy tuyệt đối giữ giới ấy. Chúng ta không giết người, không trù tính mưu mô giết người, đã đành! Chúng ta cũng phải biết động lòng thương xót những sanh mạng của tất cả mọi loài hữu hình. Hơn nữa, nếu thấy ai có ý giết hại sinh vật, chúng ta phải khuyên lơn ngăn cản đừng cho người ta thi hành ác ý ấy.
Như vậy trong điều răn cấm thứ nhất, Đức Phật khuyên chúng ta không được giết hại sanh mạng, từ loài người cho đến loài vật. Người Phật Tử tuyệt đối không được sát sanh bởi vì những lý do:
a- Tôn Trọng Phật Tánh Bình Đẳng:
Ðức Thế-Tôn đã bảo:
- Tất cả chúng-sanh đều có Phật tánh.
Vì thế mà mọi người, mọi loài đều có khả năng thành Phật. Chân tánh đã bình đẳng thì chúng ta không nên cho rằng Phật tánh ở người có giá trị hơn ở vật, ở màu da này, giai cấp này, có giá trị hơn màu da kia, giai cấp kia. Cho nên giết hại một sanh mạng là giết hại một Đức Phật ở tương lai.
b- Tôn Trọng Sự Công Bình:
Mọi loài đều biết ham sống sợ chết, trừ gặp cảnh cùng quẫn hay lý do quan trọng khác, nên mới phải quyên sinh. Chúng ta đã xem sanh mạng của mình là quý, nếu ai mưu hại thì dùng đủ cách để tự bảo vệ, thì cũng không nên ỷ khôn mạnh cậy quyền thế mà giết loài ngu yếu để thỏa lòng căm tức hoặc cầu miếng ăn vật mặt.
c- Nuôi Dưỡng Lòng Từ Bi:
Ðã là chúng sanh có tình thức thì loài nào cũng biết đau đớn, vui buồn. Một chuyện tuy rất nhỏ như khi chúng ta đi lỡ vấp, tự có cảm giác đau đớn, và trong cảnh tử biệt sanh ly ai cũng thương buồn. Vì thế chúng ta không nên nhẫn tâm làm cho kẻ khác hoặc vật khác, trước khi tắt hơi thở phải rên siết, quằn quại khổ đau. Một chút đau đớn chính mình còn khó chịu đựng, trong khi đó lại gây cho chúng sanh khác những nỗi thống khổ, tức là chúng ta không có lòng từ bi, không xứng đáng là con của Phật.
b- Tránh Nhân Quả Xấu Ác:
Theo kinh Phật, kẻ giết hại lâu ngày thì nghiệp sát càng nặng, sau khi chết phải đọa vào Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, chịu vô lượng sự khổ. Ðến khi được thân người lại bị nhiều bịnh hoặc phải chết non. Cho nên càng sát hại, thì càng tăng thêm nghiệp chướng, mãi xoay vần trong nẻo luân hồi, không biết ngày nào được ra khỏi.
Trái lại, nếu người giữ giới không sát hại hoặc phóng sanh, thì sẽ được những quả báo như sau: Sức lực đầy đủ, ít hay đau bịnh, thân tâm an ổn, mọi người yêu kính, thọ số lâu dài, thường hưởng phước vui ở cõi Người hoặc cõi Trời.
2- Không Được Trộm Cướp.
Những vật thuộc quyền sở hữu của người ta, những vật quý báu như: Vàng, bạc, châu báu, đất ruộng nhà cửa, cho đến đồ đạc, cây kim sợi chỉ, cọng rau .., thuộc quyền sở hữu của người ta, không cho mà lấy là trộm cướp. Tội trộm cướp kể cả như: Lường thăng tráo đấu, mua đầy bán lưng, đi làm trể giờ, bóc lột công nhân, lấy của công làm của tư, ăn hối lộ, mượn của người không trả lại ... tất cả đều là trộm cướp.
Như chúng ta đã biết, người đời lo mưu này tính kế nọ để làm ra tiền nuôi thân và gia đình, và để dành dụm phòng khi đau ốm, tai nạn. Nếu rủi ro bị mất tiền của do mồ hôi nước mắt chính bản thân làm ra, thì chúng ta vô cùng đau khổ, tuyệt vọng có khi đến quyên sinh. Chúng ta cũng đã có nhiều khi đau buồn vì mất của, thì xét người khác cũng vậy. Chúng ta không muốn ai trộm cướp của mình, thì tất nhiên mình cũng không nên trộm cướp của người khác. Người Phật tử là những người quyết tâm diệt trừ tham dục để tu đạo giải thoát, cho nên chúng ta dứt khoát không lấy của phi nghĩa.
Chúng ta quyết tâm không trộm cướp đã đành, mà cũng không được để cho một ý nghĩ tham lợi móng lên trong tâm. Chúng ta không trộm cướp, không nghĩ đến sự trộm cướp, trái lại khi thấy ai trộm cướp hay nẩy ra ý trộm cướp thì chúng ta cũng nên khuyên can họ, ngăn ngừa không cho họ làm bậy. Không những không trộm cướp và ngăn ngừa sự trộm cướp mà thôi, chúng ta còn bố thí cho những người nghèo khổ, thiếu ăn thiếu mặc, tìm cách giúp đỡ những người thân thuộc, trong cảnh túng thiếu.
Như vậy giới thứ hai, Đức Phật khuyên chúng ta không nên trộm cướp từ vật quý trọng như châu báu vàng bạc, đến vật mọn như cọng rau, trái ớt, mũi kim. Ðại khái những vật gì người ta không cho mà mình cố lấy, đều thuộc về trộm cướp.
Bàn về trộm cướp, nếu phân biệt rộng ra thì trộm cướp có nhiều hình thức như:
- Lén lút mà lấy,
- Ỷ bè đảng mạnh giựt ngang,
- Cậy quyền thế làm tiền kẻ yếu,
- Nhân lúc người túng ngặt cho vay nặng lời hoặc cầm mua với giá rẻ mạt,
- Tích trữ đầu cơ để bán chợ đen, cân non, đong thiếu, trốn thuế, lậu đò, mưu mô lường gạt để lấy của ...
Bất cứ hình thức nào, nếu do lòng gian tham lấy của tư hay công trong trường hợp bất chính, đều thuộc về trộm cướp.
Sở dĩ Đức Phật cấm trộm cướp, bởi vì đối với tài vật sở hữu chúng ta biết tôn trọng giữ gìn, mà trở lại cố chiếm đoạt của người, đó là trái lẽ công bình. Khi chúng ta mất hay vô ý đánh mất một số tiền hoặc vật chi, chúng ta đã lo buồn ăn ngủ không yên, thì tại sao lại đang tâm lấy của người để cho họ phải khóc than, đau khổ. Ðó chính là thiếu lòng từ bi. Trộm cướp gây cho phạm nhân bị tù tội, bị khinh chê, cha mẹ gia đình cũng buồn rầu xấu hổ. Hơn nữa, nếu trộm cướp làm cho người lâm cảnh nghèo khổ hoặc thất chí quyên sinh, thì kẻ gây nhân phải chịu nghiệp báo không nhỏ. Theo kinh Phật, kẻ trộm cướp sẽ bị những ác quả, nhẹ thì vất vả nghèo hèn, nặng thì phải làm súc sanh để trả nợ, hoặc bị đọa vào địa ngục. Cho nên vì lẽ công bình, vì lòng từ bi, vì giữ nhân cách, vì tránh ác báo, Ðức Thế Tôn khuyên răn không nên trộm cướp.
Nếu giữ giới không trộm cướp, mà lại có lòng xót thương giúp đỡ bố thí, thì sẽ được mọi người kính yêu, lòng từ bi và các phẩm lành tăng tiến, tài vật đầy đủ khỏi cảnh nghèo nàn. Sau khi bỏ sanh thần nầy thì sẽ được sanh lên cõi trời cõi hoặc cõi người hưởng phước an vui.
Nếu triệt để giữ đúng giới này, thì dù chỉ trong 24 giờ đồng hồ, lợi ích cũng rộng lớn vô cùng, vì chúng ta đã có dịp gieo nhơn tịnh hạnh là một nhơn rất quý báu trong sự tu hành phước huệ.
3- Không Được Tà Hạnh.
Phật dạy rằng:
- Người muốn đoạn trừ sanh tử, chứng quả Niết bàn mà không trừ hẳn dâm dục, thì không khác kẻ nấu cát sạn mà muốn cho thành cơm, dù ra công đem nấu, trải qua năm ngàn kiếp cũng không thành cơm được.
Vậy những Phật tử xuất gia, muốn thành Phật quả thì phải trừ dâm dục. Còn những Phật tử tại gia, chưa có thể hoàn toàn đoàn trừ dâm dục được, thì Phật chỉ cấm tà hạnh, nghĩa là ngoài vợ chồng, không được lan chạ, và giữa vợ chồng, cũng cần phải giữ chánh, biết tiết dục để cho thân tâm được trong sạch nhẹ nhàng.
Như vậy tà hạnh không phải là cấm hẳn việc nam nữ, mà chỉ ngăn không được ngoại tình. Theo giới điều thứ ba nầy, khi vợ chồng cưới hỏi có đủ lễ gọi là chánh, ngoài ra lén lút lang chạ làm điều phi hạnh gọi là tà. Nói một cách rộng rãi hơn, dù vợ chồng tuy là chánh thức cới hỏi, nhưng mà ăn nằm không phải chỗ, gần gũi không chừng mực, cũng thuộc về tà hạnh. Ðức Phật sở dĩ cấm tà hạnh, vì mỗi người ai cũng muốn gia đình mình đầm ấm yên vui, vợ con trinh chánh. Kẻ tà hạnh ăn chơi buông thả, tất bị mọi người khinh rẻ chê bai, đó là mất phẩm cách. Khi trong một gia đình mà có chồng hoặc vợ có dạ tà tư thì gia đình ấy không còn hạnh phúc, bởi vì chồng vợ không tin nhau, con cái bị xấu hổ, thân thuộc không đoái hoài, sự nghiệp sẽ suy vi. Kẻ đắm mê sắc dục cũng như người cầm đuốc đi ngược gió, tai họa trở lại chính mình, nếu không hại nước tan nhà thì cũng hư thân mất mạng. Theo trong kinh, những ác quả do tà dục gây ra, nhẹ thì nhiều kiếp vợ con không trinh chánh, gia đình tan rã, nặng tất sẽ bị đọa địa ngục, súc sanh.
Nếu giữ giới không tà dâm, thì hiện đời gia đình được hòa thuận an vui, mọi người nể trọng, đời sau sáu căn đoan nghiêm toàn vẹn, vợ con trinh chánh, được người kính mến, khỏi sự phiền lụy ưu sầu. Nhưng đây là nói về ngày thường của Phật tử tại gia. Chứ đến ngày thọ Bát Quan Trai Giới, thì tuyệt đối phải giữ giới tịnh hạnh, không được hành động dâm dục đã đành, mà cũng không được nhớ nghĩ đến những điều dâm dục. Nếu làm được như thế thì dù chỉ trong vòng 24 giờ đồng hồ, nhưng lợi ích cũng rộng lớn vô cùng, vì chúng ta đã có dịp để gieo nhơn tịnh hạnh là một nhơn rất quý báu trong sự tu hành diệt dục.
4- Không Được Nói Dối.
Nói dối là tâm nghĩ miệng nói trái nhau. Nói dối có 4 cách, mà chúng ta đã có học rồi trong bài Ngũ Giới. Ðó là:
- Nói dối,
- Nói thêu dệt,
- Nói lưỡi hai chiều,
- Nói lời thô ác.
a- Nói dối là như chuyện không nói có, có nói không, việc quấy nói phải, phải nói quấy. Điều nghe nói không nghe, không nghe nói nghe. Hoặc trước mặt khen, sau lưng chê mạt. Tóm lại, những lời trước sau mâu thuẫn, chân giả khác nhau, trong ngoài bất nhất, đều thuộc về tội nói dối.
b- Nói thêu dệt là việc ít xít ra nhiều làm cho người sân hận, trau chuốt lời nói để chữa lỗi mình, hoặc dùng lời ngọt ngào êm tai để cám dỗ khiến cho người say mê đắm nhiễm, cũng có khi nói những lời châm biếm làm cho người nghe phải khổ tâm. Ðại khái những lời nói thêm bớt không đúng nghĩa chơn thật, cho đến dùng những văn chương bóng bảy phù phiếm, làm cho người mê loạn, tâm ý phóng đãng theo việc tà ... đều thuộc về nói thêu dệt.
c- Nói lưỡi đôi chiều là đem chuyện đây học kia, đem chuyện kia học đây, đến chỗ nầy nghiêng theo bên nầy, đi chỗ nọ phụ theo bên nọ, làm cho đôi bên sanh ra giận hờn thù oán nhau, khiến bạn bè đang thân trở thành nghi ngờ chống đối lẫn nhau.
d- Nói thô ác là mắng chửi la hét, dùng nhiều lời lẽ nặng nề không thanh bai, làm cho người nghe phải khổ đau hoặc buồn rầu sợ hãi.
Bốn điều trên đều gọi là nói vọng, trái với lẽ chân thật. Bởi vì Phật Giáo là đạo như thật, nếu người Phật tử không biết đâu là hư giả cứ sống trong vòng mê vọng mà còn chồng chất thêm sự giả dối nữa, thì khó có thể an vui. Cho nên muốn học Phật, thì phải biết tôn trọng sự thật. Phải biết rằng, động lực của sự dối trá là lòng tham sân ích kỷ, muốn hại người để thỏa ý niệm đen tối của mình. Kẻ bị phỉnh gạt phải sanh phiền não, đau khổ có khi chuốc oán vương thù, hoặc tán gia bại sản. Người phật tử mà làm như thế thì lương tri đã mất, không còn tình thương. Kẻ dối trá không những làm mất lòng tin tưởng của mọi người đối với mình, mà lại gây cho bao nhiêu kẻ khác nỗi hoang mang nghi ngại. Sự an bình trong cộng đồng xã hội do đó mà bị xáo trộn. Cho nên lời nói tuy không phải đao kiếm, nhưng còn nguy hiểm hơn súng đạn, vì nó có tác dụng của hai mũi nhọn, một mũi đâm vào người khác, và một mũi trả lại đâm chính người sử dụng.
Theo kinh Phật, nghiệp vọng ngữ nếu nhẹ thì mang quả báo bị mọi người mất tin tưởng, chán nản lánh xa, việc làm thất bại. Nếu nặng như nói có tánh cách hại người, hoặc phá hoại Tam Bảo, kẻ ấy sẽ đọa vào ba đường ác, khi được làm người phải bị câm ngọng, chịu sự khinh rẻ chê bai. Cho nên, vì tôn trọng sự thật, vì lòng từ bi, vì bảo tồn sự trung tín đối với mình và người trong xã hội, vì tránh quả báo xấu ác, Đức Phật khuyên dạy không nên nói vọng. Nếu giữ giới không vọng ngữ, sẽ được mọi người kính mến, tôn trọng, tin cậy, thường ưa gần gũi, việc làm thuận lợi. Bởi lời chân thật phát từ tâm chân thật, nên các phẩm lành tăng tiến, thường hưởng phước nhơn thiên.
Nếu trong đời sống hằng ngày chúng ta chưa có thể hoàn toàn giữ giới này được, thì trong ngày thọ Bát Quan Trai Giới, chúng ta hãy triệt để thực hành giới cấm này. Chúng ta không nói sai, không nói thêu dệt, không nói hai chiều, không nói lời hung ác đã đành, nhưng chúng ta còn phải khuyên răn những người chung quanh giữ đúng giới không nói láo ấy! Nếu thực hành triệt để giới cấm này, thì dù chỉ trong một ngày đêm, chúng ta cũng đã gieo được một hột nhơn quý báu rất hiếm có trong đời này là: Lòng chân thật.
5- Không Được Uống Rượu.
Rượu làm say mê, tối tăm trí não người uống. Nó còn nguy hiểm hơn cả thuốc độc, vì thuốc độc uống vào là chết ngay, song chỉ giết chết một đời người thôi. Trong khi đó rượu làm cho người cuồng tâm, mất trí, gây nên nhiều tội lỗi, chết đi sanh lại, luân hồi nhiều kiếp trong tối tăm si ám. Về thân thể các chứng bịnh như đau gan, đau mắt, phong tê, bại liệt, ung độc do đó mà sanh, không những đã hại thân mình, mà còn di lụy đến con cháu. Người uống rượu khi say sưa thì cử chỉ lời nói đều thô tháo, bỏ bê công việc, bị người đời cười cợt chê bai. Uống rượu tuy không phải là phạm tội như: Sát, đạo, dâm, vọng, nhưng nó là nguyên nhân sanh ra vô số tội lỗi khác. Bởi thế Phật dạy:
- Thà uống nước đồng sôi cho tan mất thân này, chứ không nên uống rượu.
Chúng ta là Phật tử đang trau dồi Trí tuệ để được sáng suốt như Phật. Chúng ta không nên uống rượu đã đành, mà cũng không nên khuyên mời người khác uống rượu. Tự mình uống rượu thì tội còn nhẹ, nhưng khuyên mời người khác uống rượu thì tội lại nặng hơn. Theo trong kinh, uống rượu gây ra mười điều tai hại như sau:
01- Của tiền rơi mất,
02- Thân hay đau bịnh,
03- Tăng trưởng lòng giết hại,
04- Thêm việc sân hận tranh cãi,
05- Trí huệ lần lần kém,
06- Phước đức tiêu mòn,
07- Sự nghiệp không thành,
08- Tuổi thọ giảm bớt,
09- Thân tâm nhiều khổ,
10- Khi chết đọa vào Địa-ngục.
Vì tránh đau bịnh, vì giữ phẩm cách, vì bảo tồn hạt giống trí huệ, vì ngăn ngừa tội lỗi, Đức Phật răn dạy không nên uống rượu. Nếu giữ giới không uống rượu, về phương diện cá nhân, sẽ tránh được mười điều tai hại trên. Về phương diện đoàn thể thì trong gia đình được yên vui, con cái ít tật bịnh, ngoài xã hội thì có trật tự hòa bình.
Ðó là nói về ngày thường, chứ trong ngày thọ Bát Quan Trai Giới, chúng ta phải trừ tuyệt rượu, không được uống đã đành, mà còn khuyên răn người khác đừng nên uống.
6- Không Được Trang Điểm Quá Đáng, Thoa Dầu Thơm, Múa Hát Và Đi Xem Múa Hát.
Năm giác quan: Tai, mắt, mũi, lưỡi, thân là năm cửa ngõ, có thể mở đường cho chúng ta đến cảnh giới Niết Bàn, hay vào địa ngục. Nếu chúng ta biết mở năm cánh cửa ấy về nẻo đường thanh tịnh, nghe những lời hay lẽ phải, thấy những điều thiện, điều lành, ngửi những mùi thơm tinh khiết, đạo vị, thì con đường đến Niết Bàn, giải thoát không xa. Trái lại, nếu chúng ta hướng những cánh cửa giác quan ấy vào cõi ô trọc, mở rộng chúng cho tội lỗi lùa vào, nghe tiếng du dương luyến ái của dục vọng, thấy cảnh trụy lạc, ngửi mùi vị say nồng ... thì con đường địa ngục đã sẵn sàng mở rộng để đón chờ chúng ta.
Phật khuyên Phật tử không nên trang điểm quá đáng, xức ướp dầu thơm, múa hát lả lơi, quyến rũ, và đi xem những cảnh múa hát ấy là vì muốn cho chúng ta khỏi đọa vào địa ngục. Nhưng trong đời sống hằng ngày của người Phật tử tại gia, vì còn tiếp xúc với đời sống ngoài xã hội, cho nên phải ăn mặc tề chỉnh trang nghiêm. Đôi khi cũng phải đi dự những buổi hòa nhạc, hay múa hát, miễn là những thứ âm nhạc, những điệu múa hát ấy có tánh cách trong sạch, xây dựng và hướng thiện thì được. Nhưng dầu sao đi nữa thì chúng ta nên đề phòng, đừng để sa ngã vào vòng tội lỗi.
Trên đây là nói trong ngày thường, chứ ngày thọ Bát Quan Trai Giới, chúng ta nhất định không được trang điểm, xức ướp dầu thơm, múa hát, hay đi xem múa hát. Hơn nữa, chúng ta phải cố gắng diệt trừ những âm hưởng, bóng dáng của những thứ nghệ thuật không lành mạnh, trong đầu óc chúng ta. Ðược như thế, thì tuy thời gian chỉ ngắn ngủi có 24 giờ, nhưng ảnh hưởng tốt đẹp của nó vô cùng quý báu cho sự tu hành của chúng ta.
7- Không Được Nằm Ngồi Giường Cao Rộng Lớn.
Ðiều răn cấm này cũng như điều răn cấm thứ sáu, có mục đích ngăn ngừa thân thể, không cho buông lung theo những cảm giác mơn trớn khoái lạc của giường cao nệm tốt, chăn ấm màn êm. Vì những cảm giác này có thể kích thích lòng ham muốn bất chính của thân thể, tạo điều kiện cho chúng ta gây tội lỗi, cho nên Phật chế ra giới cấm này.
Ngày xưa trong khi xuất gia tìm đạo, một Thái Tử Tất Đạt Đa đã gối cỏ nằm sương, từ năm này sang năm khác cho đến ngày thành đạo ... Noi gương người xưa, các vị xuất gia chỉ nằm trên một cái giường nhỏ hẹp, vừa ngủ, chứ không bao giờ dùng giường rộng nệm cao. Kẻ tại gia cũng nên tập dần đức tánh giản dị đạm bạc ấy. Nếu chưa làm được trong ngày thường, thì ngày thọ Bát Quan Trai Giới, cũng phải triệt để thi hành giới thứ bảy này.
8- Không Được Ăn Quá Giờ Ngọ.
Trong luật Phật dạy:
- Chư thiên ăn sớm mai, Phật ăn giờ ngọ, súc sanh ăn sau giờ ngọ, ngạ quỷ ăn tối.
Ăn đúng giờ ngọ, được những điều lợi sau đây:
Õ - Ít mống tâm sai quấy
- Ít buồn ngủ
- Dễ được nhất tâm
- Thân được yên ổn và ít sanh bệnh
- Tinh thần minh mẫn.
Trừ một vài trường hợp như khi đau ốm, luật cũng châm chước cho được ăn cơm cháo sau giờ ngọ, nhưng khi ăn phải sanh lòng hổ thẹn.
Giữ được giới này một cách tuyệt đối, thì dù thời gian ngắn ngủi trong 24 giờ đồng hồ, chúng ta cũng đã gieo được những nhân lành tốt đẹp cho sự tu hành của chúng ta.
Trên đây chỉ kể lược qua về điều lợi hại của sự giữ gìn tám giới. Ðứng về chiều sâu, tức là phương diện chủng tử mà nói, thì như chư Tổ đã dạy:
- Nếu sát sanh, sẽ mất hết hạt giống từ bi. Trong hiện đời gặp nhiều chướng ngại, chết yểu, tài vật hao giảm, quyến thuộc chia lìa, người đời không tin dùng, kẻ khác làm tội mà mình mang họa. Ðó là nghiệp quả trong đời hiện tại. Lúc bỏ báo thân lại đọa vào địa ngục, ngã quỷ, súc sanh chịu đói khát, khổ sở, mạng sống không lâu dài. Ðây là nghiệp quả ở đời sau. Ðến khi được làm người thì lại chịu thân bần tiện, cùng khổ, xấu xa, bệnh hoạn, chết yểu.
- Nếu trộm cướp, sẽ mất hết hạt giống phước đức. Nếu kẻ nào ưa trộm cướp, thì hiện đời bị tù tội, tiền của hao giảm, quyến thuộc chia lìa, mạng sống ngắn ngủi. Nhưng nếu người khác có mất đồ thì mình lại bị nghi ngờ, dù muốn kết thân cũng không ai tin cậy. Ðó là nghiệp quả trong đời hiện tại. Lúc bỏ báo thân lại đọa vào địa ngục, ngã quỷ, súc sanh, chịu đói khát, khổ sở, mạng sống không lâu dài. Ðây là nghiệp quả ở đời sau. Ðến khi sanh làm người lại nghèo hèn, tuy được tài vật nhưng cũng bị nước trôi lửa cháy. Cha mẹ anh em vợ con đều không thương mến, thân thường khổ nhọc, tâm thường buồn lo sợ hải cho những gì chưa xảy ra.
- Nếu tà hạnh sẽ mất hết hạt giống thanh tịnh. Nếu kẻ nào ưa tà hành thì khó giữ gìn thân mình cho đến kẻ khác, mọi người trông thấy đều sanh lòng nghi kỵ. Tâm thường rối loạn, khổ não, tài vật hao mất, vợ con/chồng con khinh buồn không còn thương mến, thân thể suy kém mạng sống ngắn ngủi. Ðó là quả báo hiện tại của nghiệp tà hạnh. Lúc bỏ báo thân, lại đọa vào địa ngục ngã quỷ, súc sanh chịu nhiều nỗi khổ sở, mạng sống không lâu dài. Ðây là nghiệp quả ở đời sau. Ðến khi được làm người thì hình tướng xấu thô, hay ác khẩu, không ai thích thân thiện, không thể giữ gìn thê thiếp, con trai, con gái.
- Nếu nói vọng, sẽ mất hết hạt giống chân thật. Nếu kẻ nào ưa nói vọng, thì hiện đời dù có nói thật cũng không ai tin, mọi người khinh ghét không muốn thấy gặp. Ðó là nghiệp quả đời hiện tại. Lúc bỏ báo thân lại đọa vào địa ngục, ngã quỷ, súc sanh chịu sự đói khát, khổ sở vô cùng. Ðây là nghiệp của đời sau. Ðến khi được làm người thì tướng miệng và âm thanh không đầy đủ, dù nói thật cũng không ai tin, kẻ khác cũng không ưa gặp mặt, tuy nói chánh pháp nhưng người không thích nghe.
- Nếu uống rượu, sẽ mất hết hạt giống trí huệ. Nếu kẻ nào thích uống rượu thì trong hiện tại hay hao mất tài vật, thân tâm nhiều bịnh, thường ưa đấu tranh, tiếng xấu đồn xa, trí huệ lần kém, sức lực hao mòn, thường bị nhiều tiếng chê trách, mọi người không ai muốn gần gũi. Ðó là nghiệp quả hiện tại của sự uống rượu. Lúc bỏ báo thân, lại bị đọa vào địa ngục, ngã quỷ, súc sanh, thường chịu đói khát và vô lượng sự khổ não. Ðây là ác quả đời sau. Ðến khi được làm người, tâm thường cuồng loạn.
Trong tám giới trên, bốn giới trước thuộc về tánh giới, bốn giới sau thuộc về tướng giới. Nói tánh giới, vì những giới nầy có liên quan đến tâm tánh. Chẳng hạn như người phạm giới sát tức nhiên trong tâm có sự phóng đảng. Người phạm trộm cắp tức nhiên trong tâm có sự tham lam tiền tài. Người phạm tà dâm tức nhiên trong tâm ưa thích, nặng về ái dục. Người phạm vọng ngữ tất nơi tâm có sự gian dối ... Cho nên về tánh giới thì dù người nào đó có thọ giới hay không thọ giới, nếu phạm cũng đều bị sa đọa. Còn về tướng giới là giới thuộc về hình thức, những ai phát nguyện để giữ là muốn ngăn ngừa sự phạm lỗi, có phát nguyện giữ mà phạm thì mới có tội. Vì thế khi nói về giới thứ năm, người không thọ giới chỉ uống rượu chút ít nên không mang tội phạm giới. Nhưng cũng xin lưu ý, nếu không thọ giới rượu mà uống nhiều, lúc say sưa gây tạo nghiệp dữ thì cũng sẽ bị sa đọa như người phát nguyện giữ giới. Hay nói một cách khác, bốn giới trước thuộc về thật tội, bốn giới sau thuộc về giá tội. Nhưng đặc biệt giới rượu sở dĩ được kết hợp cùng bốn điều trên kết thành năm giới căn bản, vì nó là nguồn gốc của sự phóng đãng, hay gây ra việc phá phạm bốn giới kia. Như vào thời Đức Phật còn tại thế, có một vị Ưu Bà Tắc do xem thường giới thứ năm, nên phóng tâm uống rượu, khi say bị mẹ rầy, trong tâm trí hoang mang vị nầy đã giết mẹ mình. Người phụ nữ hàng xóm qua can thiệp lại bị ông hãm hiếp ... Ðến khi kẻ khác hỏi, ông chối rằng mình không có làm việc ấy ... Kết cuộc vì nhất thời bị rượu làm loạn tâm, nên ông đã phạm luôn cả bốn giới kia. Vì thế, giới rượu tuy không phải là giới tánh nhưng uống nhiều cũng phạm phải sự mê hoặc như ngây, như dại, điên đảo, và mắc phải quả báo cuồng loạn. Khi đã bị loạn tâm vì rượu, chắc chắn chúng ta sẽ bỏ mất chánh nghiệp như:
- Ngồi thiền, tụng kinh và làm việc chúng ...
Cho nên uống rượu tuy không phải là thật tội, nhưng là nguyên nhân phạm phải các tội khác cho nên cũng đồng với thật tội. Từ khuynh hướng nầy, về giới thứ sáu, thứ bảy và thứ tám xin được miễn bàn về phước báo hay nghiệp quả. Vì nếu có thọ mà phạm thì đắc tội, không thọ thì không đắc tội. Những cũng xin nhắc, nếu đam mê quá độ cũng bị sa đọa.
Để việc tu học và giữ giới có hiệu quả, chúng ta cũng cần phải biết một số nguyên tắc. Sự trì giới còn có các nguyên tắc:
- Khai, Giá.
Nghĩa là:
- Mở và khép.
Ví như người tuy đã thọ giới không vọng ngữ, nhưng vì lòng từ bi muốn cứu mạng loài vật, hay muốn tránh sự buồn khổ vô ích cho kẻ khác mà phương tiện nói dối, thì không phạm. Hoặc như đã thọ giới rượu, nhưng vì bệnh tê bại phải dùng thuốc rượu điều trị mới lành, thì có thể đối trước bàn Phật hay chư Tăng xin phương tiện dùng rượu để trị bệnh trong một thời gian. Ðây là nghĩa khai, tức là tạm mở ra, hay tạm cho.
Như trường hợp không cần phải dùng phương tiện, hay khi tạm dùng phương tiện để lợi mình lợi người đã xong rồi, phải chín chắn giữ giới không được trái phạm. Ðây là nghĩa giá, tức là khép, hay ngăn đóng lại. Cho nên thọ giới không phải là mãi mãi hạn chế hành giả trong một khuôn khổ, và cách giữ giới của người trí không phải cứ mãi theo một đường lối cố định.
Ngoài nguyên tắc khai, giá, còn có hai nguyên tắc khác nữa đó là:
- Trì, phạm.
Ví như sau khi thọ giới, trong trường hợp bình thường không cần phương tiện, hành giả chín chắn giữ giới gọi là trì.
Nếu đã thọ giới mà không giữ, hoặc trường hợp không đáng phương tiện mà phương tiện gọi là phạm. Người đã thọ giới, phải ý thức bốn nguyên tắc: Khai, giá, trì, phạm.
Ðức Phật chế ra giới là y cứ trên tâm từ bi, trí huệ, bình đẳng, với mục đích duy nhất là đem lại an vui trật tự cho cá nhân, gia đình, xã hội, và làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Cho nên Ngài chỉ đưa ra lẽ phải cùng sự lợi hại, để mỗi người tự chọn lựa lấy, chứ không bắt buộc cá nhân ai phải triệt để tuân theo. Chỗ đặc điểm của Phật Giáo, chính ở nơi Đức Phật không phải là một đấng uy quyền độc tôn, tự ý giữ phần thưởng phạt. Bởi vì theo Đạo Phật, một hành động, lời nói, hoặc ý nghĩ tốt hay xấu, tự nó đã mang theo ảnh hưởng vui khổ, hay phần thưởng phạt rồi.
Vậy Ðức Thích Ca chỉ là một vị Thầy hướng dẫn sáng suốt, còn kết quả vui khổ chính ở nơi người biết chọn con đường phải đi. Tám giới tuy dường đơn sơ, nhưng nó lại là căn bản của các giới. Nếu giữ tròn tám giới, chúng ta sẽ duy trì được thiện căn, không mất thân trời, người và đã có nền tảng để bước lên các nấc thang cao như Thập Giới, Cụ Túc Giới, Bồ Tát Giới, cho đến quả Vô Thượng Bồ Đề.
Đức Phật cũng khuyên các Phật Tử tại gia phải nỗ lực hành trì Bát Quan Trai Giới, sống tinh cần, nhiệt tâm, không phóng dật trong thời gian hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Những lợi lạc do công phu tu tập đó còn to lớn hơn tài sản của cải mà con người có thể tích tụ để sống sung túc cả trăm năm. Vì công phu đó sẽ tạo thiện nghiệp đưa đến tái sinh trong các cõi trời, và an lạc với tuổi thọ cả ngàn năm. Hơn thế nữa, kết quả đó sẽ giúp tạo điều kiện thuận lợi để phát triển tuệ giác, đưa họ nhập dòng thánh giải thoát, chứng các: Dự lưu, Nhất lai, và Bất Lai ...
Điều quan trọng là mỗi người chúng ta cần phải tu tập giữ tâm thanh tịnh, nhu hòa, không bận rộn, không lo âu tính toán, và lúc nào cũng cố gắng tỉnh giác, chuyên chú, chánh niệm, nhất tâm hướng về Phật Pháp trong suốt thời gian thọ trì Bát Quan Trai Giới.
Nói tóm lại, như chúng ta đã thấy, Bát Quan Trai Giới là một pháp tu vô cùng lợi ích cho giới Phật tử tại gia. Trong thời gian tu hành ấy, thân, miệng, ý của người thọ giới được hoàn toàn thạnh tịnh, tuy chỉ có 24 giờ đồng hồ, nhưng 24 giờ ấy còn quý báu hơn cả một đời của người không tu hành. Tuy lượng rất ít, mà phẩm lại nhiều vô cùng. Nó chỉ là giọt nước, nhưng là một giọt nước trong sạch hoàn toàn, cho nên nó còn quý hơn cả một ao nước đục bùn nhơ. Nó chỉ là một viên ngọc nhỏ xíu, nhưng đó là viên ngọc Ma ni, nên nó còn quý hơn trăm ngàn châu báu khác.
Chúng ta hãy phân tích một cách rõ ràng những lợi ích mà chúng ta đã thu hoạch được trong 24 giờ:
- Nhờ giới thứ Nhất, tâm ta không có ác ý giết hại sanh vật, miệng chúng ta không nhai nuốt những máu huyết tanh hôi, thân ta không nặng nề vì thịt cá. Ðối với chung quanh, chúng ta không làm cho con người và những sinh loại khác đau khổ, và mất thân mạng.
- Nhờ giới thứ Hai, tâm chúng ta không động, ý không tham lam, thân ta không mang nặng những vật phi nghĩa. Ðối với người chung quanh, chúng ta không làm họ đau khổ vì mất của cải mà họ đã nâng niu, quý trọng.
- Nhờ giới thứ Ba, tâm ta được thanh tịnh, thân ta khỏi ô uế. Ðối với người bạn trăm năm, cùng những người chung quanh, ta giữ đúng lễ, làm cho họ kính trọng.
- Nhờ giới thứ Tư, tâm ta không tà vạy, lưỡi ta không dối trá, điêu ngoa. Ðối với người chung quanh, chúng ta giữ được chữ tín, làm mọi người khỏi lo sợ, nghi ngờ.
- Nhờ giới thứ Năm, tâm chúng ta được minh mẫn, miệng không nồng nặc hơi men, thân không loạn động. Ðối với người chung quanh, chúng ta không làm cho họ phải lo sợ, khổ sở vì cơn say hành hạ.
- Nhờ giới thứ Sáu, tâm chúng ta không buông luông theo dục lạc, không dung chứa những hình ảnh, mùi vị, âm thanh tà tạp, dâm ô ... Ðối với người chung quanh, chúng ta không làm cho họ phải tập nhiễm những cảm giác không trong sạch, không thanh thoát.Õ
- Nhờ giới thứ Bảy, tâm chúng ta không mống lên những niệm danh lợi, xa hoa, thân không bị dục lạc lôi cuốn. Ðối với người chung quanh, chúng ta dễ gần gũi, thân cận, vì không bị cái cao sang, phù phiếm bên ngoài ngăn cách.
- Nhờ giới thứ Tám, tâm chúng ta được định tỉnh, sáng suốt, thân ta nhẹ nhàng, ít bệnh tật. Đối với các loài chung quanh, như người nghèo đói, ngạ quỷ, súc sinh, chúng ta không gây ra sự thèm khát, vì sự lục lạo ăn uống về đêm.
Bao nhiêu sự lợi ích cho mình và cho người mà chúng ta đã thâu thập được trong khoảng 24 giờ đồng hồ, vì thế có thể nói đây là một pháp tu hành của người tại gia vô cùng quý báu. Bởi vậy Phật tử nên thực hành Bát Quan Trai Giới, và cho dù Phật tử tại gia, mặc dù suốt ngày suốt tháng bận bịu về sinh kế làm ăn, mỗi tháng cũng nên sắp xếp việc nhà, vào chùa thọ Bát Quan Trai Giới một vài lần. Nếu hoàn cảnh thuận lợi, có thể thọ được nhiều lần lại càng tốt. Cố gắng thực hành y như lời Phật dạy, tu theo hạnh giải thoát, rồi khuyên nhiều người cũng thực hành theo, để cùng nhau tiến bước lên đường giải thoát, an vui.
5 Câu Hỏi Thảo Luận
1- Người xưa thường nói:
- Tướng tự tâm sanh, tướng tùng tâm diệt
Nghĩa Là:
- Tướng từ nơi tâm mà sanh ra
Cũng do tâm mà biến mất.
Theo quan niệm của tướng số thì câu nói nầy đúng trăm phần trăm. Nhưng đối với người Phật Tử giữ năm giới tại gia, hay Tám Quan Trai Giới một ngày một đêm thì câu nói nầy có đúng không? Xin mời các anh chị thảo luận và cho một vài thí dụ chứng minh cụ thể.
2- Tám giới quan trai là dựa vào năm giới căn bản của Phật Tử tại gia, nhưng được khai triển thêm ba giới nữa lập thành tám giới. Xin các anh chị thảo luận nguyên do chính đáng mà chư tôn thiền đức thêm vào ba giới:
- Không được trang điểm, thoa dầu thơm, múa hát và xem múa hát.
- Không được nằm ngồi giường cao rộng đẹp đẽ
- Không được ăn quá giờ ngọ
Để hợp thành tám giới quan trai?
3- Trong tám Quan Trai Giới đã có sự ẩn tàng Tam Vô Lậu Học: Giới, Định, Tuệ. Xin các anh chị thảo luận trong tám giới:
- Giới nào thuộc về Giới
- Giới nào thuộc về Định
- Giới nào thuộc về Tuệ.
4- Trong năm thừa. Xin các anh chị thảo luận về một người Phật Tử đã và đang thực hành Tám Quan Trai Giới là người Phật Tử đó đã và đang đi về hướng của Thừa nào?
5- Xin các anh chị thảo luận về câu nói của Đức Lục Tổ Huệ Năng:
- Giới luật cao nhất là vô tâm.
Và xin cho biết theo quan điểm của Đức Lục Tổ Huệ Năng như thế nào mới được gọi là vô tâm?