Thursday, Jul 29th

Cập nhật vào:11:02:27 PM GMT

Bát Chánh Đạo

BÁT CHÁNH ĐẠO

Bài MP3 (Press play) Download


Xin mời vào đây để trao đổi và thảo luận

Dẫn nhập:

 

Đạo Phật đã có mặt trên thế gian nầy sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo dưới gốc cây Bồ Đề, bên dòng sông Ni Liên thuộc thành phố Bodhgaya, nay là quận hạt Gaya của tỉnh bang Bihar, Ấn Độ.  Bài pháp, “Tứ Diệu Đế” là bài pháp đầu tiên mà Đức Phật đã thuyết giảng cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển thuộc thành phố Sarnath, tỉnh bang Uttah Pradesh, Ấn Độ ngày nay. 

Trong bài pháp nầy, Đạo Đế đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc chuyển mê khai ngộ, chứng đắc an lạc niết bàn cho vạn loại chúng sinh.  Nếu bài pháp Tứ Diệu Đế mà không có Đạo Đế thì Đạo Phật đã trở thành một thứ đạo bi quan, yếm thế, mê tín dị đoan, cầu xin khấn vái, không thực tế và thiếu khoa học.  Do vậy, Đạo Đế đã xác lập được vị trí độc tôn của Phật giáo mà không có bất cứ giáo lý hoặc kinh điển nào của các tôn giáo khác có thể đem ra so sánh được.  Như vậy, Đạo Đế chính là đạo Phật.  Đạo Đế được diễn giải rộng thành Bát Chánh Đạo mà ở trong giáo lý Bát Chánh Đạo nầy chúng ta tìm thấy tinh hoa của tất cả tám vạn bốn ngàn pháp môn thuộc các truyền thống tu học của Phật giáo đã được phát triển tùy theo căn cơ trình độ của chúng sinh trong quá trình truyền bá chánh pháp.

 

Nội Dung:

Bát Chánh Đạo (Skrt: Astaymarga, Pàli: attariyamagga, Eng: Eightfold Paths), còn gọi là Bát Thánh Đạo.  Là con đường chân chánh (thánh) có tám ngành hay tám chi: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định.  Con đường nầy đưa hành giả vào dòng suối Thánh chảy về Niết Bàn nên được gọi là Thánh Đạo. Con đường này còn được gọi là Trung đạo (Majjhimà Patipadà – Middle Way) vì nó tránh hai cực đoan: cực đoan tìm hạnh phúc bằng cách theo đuổi khoái lạc giác quan, một điều "thấp kém, tầm thường, không lợi ích, đường lối của những kẻ hạ liệt", và cực đoan tìm hạnh phúc bằng cách tự ép xác dưới nhiều hình thức khổ hạnh, điều này cũng "đau khổ, không xứng đáng, không lợi ích." Vì đã đích thân thử hai cực đoan ấy và thấy chúng vô dụng, đức Phật đã tìm ra Trung đạo bằng kinh nghiệm của chính bản thân ngài và thấy nó "đem lại tri kiến, đưa đến an tịnh, trí tuệ, giác ngộ, Niết-bàn." Trung đạo này thường được gọi là Bát Chánh Đạo.

 

Chánh Kiến

Chánh Kiến (Skrt: sammàditthi, Eng: Right View): thấy đúng.

Chánh Kiến, còn có chỗ gọi là Chánh Tri Kiến.  Có nhiều định nghĩa trong nhiều kinh điển Phật giáo:  Hiểu rõ Tứ Thánh Đế là Chánh Kiến.  Thấy rõ pháp Duyên Khởi là Chánh Kiến. Thấy tất cả các pháp (mọi hiện tượng từ tâm lý đến vật lý) là vô ngã là Chánh Kiến. Trong kinh Chánh Tri Kiến, Trung Bộ I, Chánh Kiến được định nghĩa như sau, “Khi một vị Thánh đệ tử biết được bất thiện[1] và biết được căn bản của bất thiện, biết được thiện[2] và căn bản của thiện, thì khi ấy vị Thánh đệ tử có Chánh Kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp nầy.” – “Khi nào vị Thánh đệ tử biết già, chết, tập khởi của già, chết, đoạn diệt cuả già chết và con đường đưa đến đọan diệt già chết thì khi ấy vị Thánh đệ tử có Chánh Kiến.”

 

Tương tự với phát biểu về già, chết, ta có các định nghĩa về Chánh Kiến liên hệ đến 11 chi phần còn lại của Duyên khởi.  Chánh Kiến còn được định nghĩa rằng, “Biết được Chánh Kiến là Chánh Kiến, tà kiến là tà kiến; Phân biệt được chánh ngữ với tà ngữ; Biết được chánh nghiệp và tà nghiệp; Biết được chánh mạng và tà mạng; Biết được chánh tinh tiến và tà tinh tiến; Biết được chánh niệm và tà niệm; Biết được chánh định và tà định

 

Chánh Tư Duy

Chánh Tư Duy (sammàsankappa): nghĩ đúng.
Tương tự các định nghĩa về Chánh Kiến, chúng ta có định nghĩa về Chánh Tư Duy. – Tư duy về Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo, về Duyên Khởi, về Vô Ngã là Chánh Tư Duy.  Tư duy trên căn bản Duyên Khởi, Vô Ngã, Tứ Đế là Chánh Tư Duy.  Phàm cái gì thuộc tư duy, tầm cầu, tư duy một ngữ hành nào do hoàn toàn chú tâm, chuyên tâm của một vị thành thục trong Thánh Đạo, có vô lậu tâm, có Thánh tâm, Chánh Tư Duy như vậy là Chánh Tư siêu xuất thế gian.

 

Bước đầu tiên trong việc chuyển hướng mọi hoạt động của mình vào mục đích thể hiện Bát Chánh Đạo là tư duy, nghĩa là hướng mọi tư duy của mình vào việc xả ly tham ái và sự chấp thủ. Vì vậy, chánh tư duy đươcc định nghĩa một cách cụ thể là khởi lên những tư tưởng ly tham, ly sân và bất hại. Sân hận và tàn hại là mặt trái của lòng tham ái. Nó là biểu hiện cao độ của nội tâm bất an, bị khuấy động bởi sự bất mãn và lòng vị kỷ. Việc khởi lên những tư tưởng ly tham, ly sân và bất hại không những chỉ làm cho nội tâm trở nên thanh thản, trong sáng để xả ly tham ái và chấp thủ, mà còn là điều kiện tiên quyết để xoá bỏ bức tường ngăn cách giữa mình và mọi người trong đời sống xã hội. Với ý nghĩa này, chánh tư duy giúp người Phật tử có khả năng giải quyết êm đẹp những mâu thuẫn mới trong trường hợp giải quyết bằng phương pháp bạo động. Bản chất đấu tranh là tạo tiền lệ cho những mâu thuẫn mới theo nguyên tắc”Oán oán chập chùng”. Vì vậy phương pháp hữu hiệu nhất để giải quyết mọi xung đột chính là đường lối hòa bình, phát xuất từ những tư tưởng đầy thiện ý và bất hại, tức từ chánh tư duy. Người sống với chánh tư duy thì môi trường sinh hoạt của họ toát ra một không khí an lành. Với điều này không thôi, họ đã giúp cho những người sống chung quanh họ được một món quà quý báu - bình an.

 

Chánh Ngữ

Chánh Ngữ (sammàvàca): nói đúng.

Chánh Ngữ, nói lời chân thật, nói như chánh pháp thì đời nầy sẽ gặt được quả báo tốt đẹp.  Chánh ngữ là lời nói xa lìa vọng ngữ, xa lìa lời nói độc ác, xa lìa lời nói hai chiều, nói hai lưỡi, xa lìa lời nói ỷ ngữ tức các lời nói phù phiếm xa hoa.  Ngôn ngữ là bộ mặt của tâm hồn. Một nội tâm có tư duy sẽ biểu lộ sắc thái của mình qua những lời ăn tiếng nói đem lại an vui cho mình và cho người khác. Cách nói đó gọi là chánh ngữ.  Vậy chánh ngữ là nói năng đúng đắn, phù hợp với chánh tư duy và với mục đích diệt khổ bằng phương pháp Bát Chánh Đạo. Cách nói năng này được xếp thành 4 loại sau:

            1- Không vọng ngữ: Vọng là nói không thật, cốt để lừa dối người khác nhằm che cái xấu của mình hoặc vụ lợi cho mình, hoặc vu khống kẻ khác. Chuyện có nói không có, chuyện không có nói có, chuyện có làm nói không làm, chuyện không làm nói làm. Kiểu ăn nói này không những đánh mất niềm tin của người khác nơi mình, mà còn gây ra những bất hòa, thù hận giữa mình với họ. Đây là yếu tố gây khổ cho mình và người. Cho nên, những ai muốn thực hành chánh ngữ, thì phải tránh xa kiểu nói năng này. Nói thành thật không những củng cố lòng tin yêu lẫn nhau mà còn là cách tốt nhất để tập luyện đức tánh tôn trọng sự thật. Và tôn trọng sự thật là yếu tố then chốt đầu tiên để diệt khổ, tức chánh kiến. Những ai chuyên môn lừa dối kẻ khác, cũng sẽ lừa dối luôn chính mình. Và vì vậy, đánh mất khả năng diệt khổ.

            2- Không lưỡng thiệt: Lưỡng thiệt là nói hai lưỡi, kiểu “đâm bị thóc, thọc bị gạo”, đến người kia nói xấu người này, cốt để ly gián đôi bên, hoặc lắm khi chỉ vì cái tật ngồi lê đôi mách. Tác hại của lưỡng thiệt là làm cho hai bên chia rẽ, thù hận đến mức có thể đánh giết nhau. Có hiểm họa nên người An định nghĩa lưỡng thiệt là “bẻ gãy tình bằng hữu”, và ví nó như một loài muỗi nhỏ mà độc hiểm, đến vo ve bên lỗ tai người này, hút máu họ rồi đi truyền bệnh sốt rét cho kẻ khác. Người có chí nguyện diệt khổ cho mình và người thì không thể xử dụng kiểu ăn nói đâm bị thóc, thọc bị gạo này được. Để sống phù hợp với luật tương duyên, người ta cần có những lời nói xây dựng, tạo hài hòa đem lại bình yên và hòa hợp giữa mọi người.

            3- Không ác khẩu: Ac khẩu là nói cộc cằn thô lỗ, thóa mạ người nghe. Đó là những lời nói phát xuất từ lòng sân hận, dễ làm mất lòng người khác, dễ biến bạn thành thù. Người thực hành chánh ngữ lòng đầy thiện ý đem vui và cứu khổ người khác, từ bỏ cách ăn nói ác khẩu này, chỉ nói những lời hòa nhã, dễ mến để xây dựng và tạo sự lợi lạc cho nhau.

            4- Không ỷ ngữ: Ỷ ngữ là nói những lời hoa hoè nhảm nhí cốt để nịnh hót, làm xiêu lòng người khác, hoặc chỉ để ngồi lê đôi mách cho qua thì giờ. Có tính chất như vậy, ỷ ngữ không đem lại lợi ích gì cho người nói lẫn người nghe mà trái lại chỉ làm cho tâm thêm dao động, rối loạn. Người chánh ngữ tránh xa kiểu ăn nói này vì ý thức rằng trên đường tìm về sự an tịnh của nội tâm để trừ diệt tham ái, thì không thể không “ngôn ngữ đạo đoạn”. Tâm và từ chỉ mới là những lời nói trong tâm mà còn cần phải bỏ huống gì cho nó tuôn bừa bãi ra cửa miệng. Phải biết “Im lặng như chánh pháp, nói năng như chánh pháp”. Nếu cần phải nói để cải thiện hoàn cảnh thì “Một câu vắng tắt đầy ý nghĩa mà làm người nghe an lạc còn hơn rôm rã ngàn lời nhưng vô nghĩa”.

Chánh Nghiệp

Chánh Nghiệp (sammakammata): làm đúng.

Chánh Nghiệp là có nghề nghiệp chánh đáng, không làm tổn hại sinh vật như từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục nhiểm.  Nếu không sống đúng với những điều căn bản trên đây là Tà nghiệp tức trái với chánh nghiệp.  Nghiệp là hành động có tác ý. Như vậy, chánh nghiệp là những hành động đúng đắn được hướng dẫn bởi chánh tư duy. Nói một cách cụ thể, đó là những hành động không phạm vào sát sanh, trộm cắp và tà dâm mà trái lại, luôn luôn thể hiện lòng từ ái và bi mẫn đối với mọi loài, tức những hành động bảo vệ sự sống, bố thí và trung chính. Không sát, đạo, dâm là những giới luật căn bản đặt trên nền tảng từ bi mà Đức Phật chế ra để người Phật tử dùng nó để xây dựng một đời sống an lành và tốt đẹp cho mình từ phạm vi cá nhân cho đến gia đình và xã hội.

Chánh Mạng

Chánh Mạng (sammààjiva): sống đúng.

Chánh mạng là sống chân chánh, sống đúng chánh pháp.  Người có chánh mạng là người từ bỏ nuôi sống theo sự lừa đảo, gian trá lấy lợi cầu lợi.  Nuôi sống mình bằng những nghề nghiệp chính, tức phù hợp với chánh tư duy gọi là chánh mạng. Chánh mạng chính là chánh nghiệp được nhìn dưới khía cạnh nghề nghiệp. Nói một cách cụ thể, chánh mạng là không làm những nghề tổn hại đến sự sống , nhân cách và quyền lợi kẻ khác; như buôn người, bán thịt, buôn bán vũ khí, rượu, ma túy sách báo phim ảnh đồi truỵ, bạo lực, hoặc bóc lột sức lao động người khác v.v... Tất cả các nghề nghiệp này, một mặt làm thiệt hại đến đời sống vật chất, tinh thần của mình, của người và toàn bộ xã hội. Mặc khác, nó ảnh hưởng trở lại chính tâm hồn mình, phá hủy các đức tính cao quý như từ - bi - hỷ - xả của chánh tư duy, đồng thời tăng trưởng lòng tham sân si, tức những nhân tố gây ra đau khổ cho mình và cho xã hội. Tâm bất chánh dẫn đến những hoạt động bất chánh. Quá trình tác động qua lại này biến cuộc sống thành một vòng luẩn quẩn của khổ đau.

Chánh Tinh Tiến

Chánh Tinh Tiến (sammààyàma): siêng năng đúng.

Chánh Tinh Tiến là nỗ lực đoạn trừ tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà niệm, tà định để thành tựu chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh niệm và chánh định.  Chánh Tinh Tấn cũng còn gọi là Tứ Chánh Cần, tức nỗ lực ngăn chận những tư tưởng bất thiện không cho chúng phát khởi. Nỗ lực tiêu diệt các tư tưởng bất thiện đã khởi, không cho chúng phát khởi trở lại. Nỗ lực khởi lên những tư tưởng thiện chưa có, nỗ lực duy trì và phát huy các tư tưởng thiện đã phát khởi. Nói cách khác, chánh tinh tấn chính là năng lượng nuôi dưỡng và phát huy chánh tư duy. Với tác dụng này, nó còn là năng lượng biến các yếu tố khác trong Bát Chánh Đạo thành hiện thực diệt khổ.

Chánh Niệm

Chánh Niệm (sammà satti): nhớ đúng.

Chánh Niệm là các niệm tưởng đoạn trừ tà kiến, tà ngữ, tà mạng, tà nghiệp, đạt được vào trú chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp gọi là chánh niệm.  Ngược lại là tà niệm.

Niệm là ghi nhớ. Chánh niệm tức ghi nhớ mục đích chánh đáng của mình là bỏ lòng tham ái để diệt khổ. Vì vậy, câu định nghĩa đúc kết của chánh niệm là niệm thân bất tịnh, niệm thọ thị khổ, niệm tâm vô thường , niệm pháp vô ngã. Khi nghĩ đến thân dù của mình hay của người, thấy nó là một tập hợp ô uế đầy máu thì tham dục không khởi. Khi nghĩ đến thọ, biết rằng cảm thọ có tính vô thường, hễ tham đắm nó, sẽ rước khổ vào mình nên không truy cầu, không hụp lặn trong các cảm thọ. Khi nghĩ đến tâm, thấy nó biến đổi nhanh chóng trong từng sát na, không một tích tắc tạm dừng. Tính chất này làm cuộc sống của mình căng thẳng và mệt mỏi, nên phải dứt khoát tìm cách thoát ngoài sự ràng buộc của các ý tưởng, tìm cách làm chúng lắng lại. Khi nghĩ đến pháp, tức mọi sự vật trên đời, những gì mình thấy , mình nghe, mình nếm, mình ngửi, mình rờ, mình nghĩ, nói tóm tất cả những gì mình nhận biết được qua 6 giác quan, chúng chỉ là bóng dáng sự vật được ghi nhận lại nơi các giác quan. Bản thân sự vật vốn là một tập hợp duyên khởi không có một cụ thể riêng nào, làm sao mình nắm được nó? Cái mà mình nắm chẳng qua chỉ là bóng dáng của nó, là thọ, là tưởng và thức về nó mà thôi. Om giữ những thứ này, đầu óc nặng nề, thân hình mỏi mệt, tâm thêm rối loạn. Biết vậy, nên người Phật tử quyết từ bỏ lòng tham luyến nó, bất cứ gì mình nhận được qua các giác quan. Với ý nghĩa như thế, chánh niệm là bước ý thức xả ly cần thiết để đưa tâm trở về trạng thái trong sáng, giúp tâm dễ đi vào định. Không có chánh niệm, không thể có chánh định.

Chánh Định

Chánh định (sammà samàdhi): tập trung đúng.

Định là tâm ở yên một chỗ. Muốn vậy, tâm phải không có bị ràng buộc vào một cái gì cả. Vì thế, yếu tố then chốt tạo nên định chính là xả, tức ý thức từ bỏ tham ái. Như vậy, chánh định là trạng thái an tịnh của tâm. Chính trạng thái an tịnh nàycủa tâm đã biến ý thức xả ly thành một sức mạnh xả ly có khả năng diệt sạch mọi tham ái và chấp thủ, nghĩa là chấm dứt khổ. Vì thế Đức Phật từng tuyên bố: Tâm bất động là giải thoát bất tử.

            Có nhiều phương pháp để tập luyện chánh định. Chẳng hạn như  phương pháp giữ chánh niệm khi thở vô, thở ra.

            Giữ chánh niệm ở 4 chỗ (Thân, thọ, tâm và ý), quán nhân duyên, quán vô lượng tâm, quán tâm địa, Như Lai thièn v.v... Tất cả đều không ngoài mục đích đưa tâm về trạng thái trong sự bất động nhờ xả ly hoàn toàn những ô nhiễm tham sân si , tâm hồn như vậy mới có thể là căn bản cho một cuộc sống lành mạnh, an vui.

 

Kết Luận:

            Trên đây  là những trình bày chi tiết về 8 yếu tố hợp thành Bát Chánh Đạo cùng những mối liên hệ giữa chúng . Mối liên hệ ấy được hình dung như một cái kiềng ba chân. Chân thứ nhất là Giới gồm chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng; chân thứ hai là Định gồm chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định; chân thứ ba là Tuệ gồm chánh kiến và chánh tư duy. Ai cũng dễ thấy rằng nhờ giới phòng hộ, điều hòa các hành động của thân và miệng, mà tâm dễ đi đến định, nhờ định mà tâm trong sáng, tạo điều kiện cho tuệ giác phát huy tác dụng diệt khổ của nó. Thế thì tại sao Đức Phật lại xếp hai yếu tố chánh kiến và chánh tư duy của tuệ giác trước các yếu tố thuộc giới và định? Tại sao ngài không xếp theo thứ tự Giới - Định - Tuệ? Việc này chẳng có gì khó hiểu. Thứ tự trong Bát Chánh Đạo là thứ tự phải có trên bước đường tu tập, còn thứ tự trong Giới - Định - Tuệ là thứ tự sắp xếp từ nhân đến quả. Mọi hoạt động của con người đều do tâm chủ động, tâm hướng lên thì các hoạt động của thân và khẩu đều là những hành động hướng thiện. Tâm chui xuống thì hoạt động của thân và khẩu trở thành bất thiện. Trên bước đường diệt khổ, chánh kiến là kim chỉ nam, còn chánh tư duy là động cơ thúc đẩy mọi hoạt động của người Phật tử tiến về hướng giải thoát an vui mà chánh kiến đã chỉ. Vậy thì việc đặt hai yếu tố này đứng đầu là một điều tất yếu.

            Nếu xét về tầm quan trọng thì chánh kiến, chánh tinh tấn và chánh niệm là 3 yếu tố then chốt. Chúng liên kết với nhau tạo thành một năng lực kỳ diệu giúp các yếu tố còn lại được thể hiện trọn vẹn. Không có bộ ba này thì chánh tư duy không thể phát khởi và duy trì. Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng và chánh định cũng thế.

 

Kinh Đại Tứ Thập (Trung Bộ III) và Kinh Chánh Tri Kiến (Trung Bộ I), xác định chánh kiến là chi phần chủ yếu của Bát Chánh Đạo, của Đạo Đế, hay của con đường giải thoát khổ đau.  Có chánh kiến mới có mặt của chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.  Không có chánh kiến thì chỉ có mặt tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm và tà định.

Từ sự giải thích căn bản trên đây về Bát chánh đạo, chúng ta có thể thấy rằng sống theo Bát Chánh Đạo là một lối sống phải được mỗi người tuân theo, thực hành và phát triển. Nó là tự kỷ luật trong thân xác, lời nói và ý nghĩ, tự phát triển và tự thanh lọc. Nó không dính líu gì đến đức tin, cầu nguyện, thờ phụng hay nghi lễ. Trong nghĩa đó, nó không có gì có thể gọi là có tính cách "tôn giáo" thông thường. Nó là một con đường dẫn đến sự thực chứng chân lý tối hậu, dẫn đến tự do hoàn toàn, hạnh phúc và bình an nhờ sự hoàn thiện về đạo đức, tâm linh và trí thức.

 

Câu Hỏi:

1)      Anh Chị nghĩ gì về giá trị của sự cầu nguyện lễ bái trong Phật Giáo khi đem ra so sánh với giáo lý Bát Chánh Đạo?

2)      Anh Chị có nghĩ rằng chúng ta có thể hoán chuyển vị trí của Bát Chánh Đạo mà không cần phải sắp theo vị trí từ 1 đến 8 (1. Chánh Kiến, 2. Chánh Tư Duy, 3. Chánh Ngữ, 4. Chánh Nghiệp, 5. Chánh Mạng, 6. Chánh Tinh Tấn, 7. Chánh Niệm, 8. Chánh Định) như truyền thống xưa nay không?  Tại sao?

Hạn chót nộp bài ngày 30/11/2009.

 

 

 

 

 

 



[1] Bất thiện pháp là 10 ác nghiệp, căn bản của bất thiện pháp này là tham, sân, si

[2] Thiện pháp đề cập ở trên đây là 10 Thiện Nghiệp, căn bản thiện pháp ấy là vô tham, vô sân, vô si.

 

Comments 

 
+1 #4 Le Nghia 2009-11-27 08:32
TD chạy ra chạy vào thì thấy email của anh Thông . Hôm nay chạy vào đây xem vì hôm qua có gặp một trại sinh nói là câu hỏi ... hơi khó ... TD muốn xem khó ra sao ? Mà cũng khó thiệt nếu không biết lễ bái liên hệ gì đến Bát Chánh Đạo .
 
 
#3 Tâm Tánh - Văn Đình Sơn 2009-11-27 08:29
Anh Thong co tra loi, nhung qua email. Chac Tam Hoa cung da nhan roi? Chac minh phai yeu cau anh Thong vao day de sinh hoat
 
 
+1 #2 Le Nghia 2009-11-27 08:26
Sao không thấy các anh chị trong Ban Giảng Huấn trả lời nên Tắc Dũng nghĩ rằng mỗi người phải "tự thắp đuốc lên mà đi" rùi
Chúc Tam Hoa luôn an vui .
TD
 
 
#1 Tam Hoa 2009-11-06 10:41
KHo^ng biet lan nay tui em phai lam bai rieng hay la chung mot Chu'ng nhu bai ham thu ddot 1?
Cam on quy anh chi va chuc quy anh chi luon an lac.
em,
kd